Nghề Nghiệp-Việc Làm

Loading...

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Cà phê của người trẻ

Niches là dự án khởi nghiệp đầu tay của một nhóm sinh viên trẻ “máu” kinh doanh và đam mê với cà phê. Trong đó, Lê Hồng Hải Nhân cựu sinh viên Đại học Công nghệ thông tin, là thành viên trụ cột của nhóm từ những ngày đầu thành lập tháng 5/2011.
Nhớ lại quãng thời gian ban đầu, Hải Nhân cho biết, khó nhất là cân nhắc khi quyết định góp vốn bởi số tiền khởi nghiệp không hề nhỏ đối với các thành viên, vốn chỉ phụ thuộc kinh tế gia đình. Nhưng cả nhóm quyết tâm làm thật chứ không để ý tưởng chỉ tồn tại trên giấy.
Để thể hiện quyết tâm, theo Nhân, cách tốt nhất là để mọi người thấy được mình toàn tâm, toàn ý với nó. Do vậy, dù đang làm việc cho một công ty công nghệ thông tin, lương mỗi tháng lên đến ngàn USD nhưng Nhân vẫn nộp đơn xin nghỉ, “Nếu muốn thành công lớn thì chi phí cơ hội bỏ ra cũng lớn tương đương”, Nhân quan niệm.
Đọc được quyết tâm của Nhân và nhóm bạn, ban đầu, phụ huynh cả nhóm đều phản đối, nhưng qua quá trình thuyết phục dần dần phụ huynh cũng ủng hộ hết mình. “Chung quy niềm đam mê và quyết tâm của mình có đủ lớn để thuyết phục và tỏa sang người khác hay không”, các thành viên của Niches chia sẻ.

Niches bây giờ là điểm hẹn quen thuộc, một góc trú ẩn, một xó nhỏ để các bạn trẻ tìm thấy một nơi thật sự ấm cúng. Tầng một bài trí theo phong cách Tây có những buổi biểu diễn nhạc 2 buổi tối cuối tuần trong không gian ấm cúng, mọi người xích lại gần nhau hơn một chút trong sự hòa quyện của âm nhạc.
Lầu 2 sẽ là không gian của công nghệ với các máy móc nghe nhạc hiện đại, không gian của giải trí, lầu 3 đậm chất Nhật Bản dễ thương, khá yên tĩnh cho các nhóm sinh viên ngồi học bài.
Điểm nhấn của quán chính là luôn sẵn máy chiếu và hỗ trợ các bạn tối đa trong việc học nhóm và thuyết trình, thực sự là một nhu cầu rất thiết thực trong giới sinh viên. Các buổi hội thảo, chia sẻ về kinh nghiệm kinh doanh hay những buổi học tiếng Anh của quán khá bổ ích cho sinh viên.

Đặc điểm khó lẫn của quán là đội ngũ quản lý lẫn nhân viên đều là những người rất trẻ, năng động và nắm bắt tốt gu khách hàng. Những phản hồi của khách đa phần khen đội ngũ phục vụ dễ thương.
Các thành viên của Niches đều cho rằng, đây không đơn thuần là họ đang làm thêm kiếm thu nhập mà còn giao lưu, trải nghiệm cảm giác yêu thích với công việc mình làm và chia sẻ với nhau như gia đình nhỏ.

Khởi nguồn từ một ý tưởng cộng với niềm đam mê giành cho cà phê, dự án nhỏ nay có vốn lên gần 700 triệu đồng, nguồn chủ yếu vẫn là vay mượn, có nhiều giai đoạn khó khăn đến tan rã nhưng cuối cùng niềm đam mê vực dậy.
Dự án đã chiếm trọn quỹ thời gian nửa năm của cả nhóm, đến nỗi ăn “cà phê” ngủ “cà phê”, Nhân kể bạn sợ cảm giác thử hàng trăm ly cà phê để tìm loại cà phê ngon nhất.
Mọi người gầy rạc người vì xắn tay vào làm mọi thứ, trang trí, trồng hoa, thiết kế, cân đối tài chính, thu ngân... nhưng nhờ thế gặt hái nhiều trải nghiệm quý giá. “Cuộc sống trở nên thú vị hơn khi người trẻ dám thử thách chính mình, tìm được đam mê và chộp lấy nó”, họ nhấn mạnh.

KHÁNH LY

Từ cậu bé bán nước mía thành "triệu phú" hamster

Cậu bé chạy theo phụ cha mẹ bán nước mía lề đường ngày nào giờ đã là ông chủ chuỗi cửa hàng chuyên bán thú cưng nổi tiếng Sài Gòn, với thu nhập hằng tháng khoảng 100 triệu đồng.

Đó là chàng trai Trần Văn Thành, 22 tuổi, vừa tốt nghiệp Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng, TP.HCM.
Năm 2008, cậu học sinh lớp 12 Trần Văn Thành hòa vào trào lưu nuôi thú kiểng đang sốt. Lúc đó cậu giấu bố mẹ mua một cặp hamster giá 120.000 đồng về nuôi. Vẻ đáng yêu của những chú chuột hang khiến Thành nhiều khi thức cả đêm để chơi với chúng. Vài tháng sau, cặp hamster của Thành cho ra đời 7 “em bé”.
Cứ thế, Thành nuôi đàn hamster của mình trong cái lồng phủ vải vì sợ bố mẹ biết. “Đến khi số con trong đàn vượt quá 30, Thành biết mình không còn đủ sức nuôi chúng nữa và nghĩ là: phải bán thôi”, Thành kể.
Ông chủ trẻ Trần Văn Thành khởi nghiệp từ chính những con hamster do mình tự nuôi. Ảnh: Xuân Hường
Đầu năm 2009, Thành bắt đầu tập tành lập website và rao bán những con hamster của mình trên mạng. Bán được những con đầu tiên, cậu bỗng nhận ra mình có thể kiếm được tiền từ việc này. Có vốn, cậu mua thêm con giống, thức ăn, chuồng nuôi và mọi thứ cần thiết để nuôi hamster và bổ sung vào danh sách các mặt hàng của mình. Hamster & Monkey shop của Thành ra đời từ đó.Thành bắt đầu khoác ba lô sang Thái Lan – nơi khởi phát phong trào nuôi hamster. Cậu đi vòng quanh các khu chợ để tìm nguồn hàng và mở mang tầm mắt. Có lần vì ham rẻ, Thành đã nhập thử 100 con hamster từ Trung Quốc với giá chỉ bằng phân nửa giá ở Thái Lan. Đàn hamster đó sau một tuần chỉ còn 20 con sống sót. Thành phát hoảng, sau đó tìm ra nguyên nhân là các con giống ở Trung Quốc vốn không được chăm sóc tốt, lại gặp điều kiện khí hậu không tương đồng nên chết hàng loạt.
“Mình cạch luôn, từ đó đến giờ chỉ dám nhập con giống từ Thái, giá tuy cao nhưng đảm bảo chất lượng”, Thành kể.
Không có xe máy, thời gian đầu lập nghiệp của cậu sinh viên là những chuyến xe buýt với lồng thú ôm khư khư trong tay. Nhiều đơn đặt hàng đến từ các tỉnh xa, nhưng xe khách không có dịch vụ chuyển thú mà hamster thì sẽ chết ngay nếu bị nhốt dưới hầm xe. Thế là Thành một mình ôm lồng thú đi khắp nơi để giao hàng.
“Có ngày, sáng mình ở Cần Thơ, chiều ở Vũng Tàu, về đến Sài Gòn là 10 giờ tối. Hồi ấy shop online mở ra nhiều lắm. Mình cũng không hiểu tại sao khách hàng lại tin tưởng shop mình và đặt mua rất nhiều. Nhiều bạn còn không cần giao hàng mà tự tìm đến nhà mình, leo lên tận căn gác phòng để rước hamster về”, Thành cười, nhớ lại thời gian đầu lập nghiệp.
Sau một năm bán hàng trên mạng, Thành tích cóp được chút vốn và quyết định thuê mặt bằng mở cửa hàng. Hợp đồng thuê mặt bằng đầu tiên ở đường Trần Quang Diệu bị chủ nhà đơn phương hủy bỏ sau 2 tháng vì sợ những con thú nuôi sẽ lây bệnh cho họ.
Thông tin hamster có thể lây bệnh truyền nhiễm từng khiến Thành lao đao một thời gian dài. Cuối cùng, cậu cũng thuê được một căn nhà hai lầu trên đường Trần Huy Liệu. Rút kinh nghiệm lần bị đuổi trước, cậu thuê nguyên căn. Ông chủ trẻ Trần Văn Thành bước sang một giai đoạn mới của việc kinh doanh.
Một góc cửa hàng của Thành trên đường Trần Huy Liệu, quận Phú Nhuận, TP.HCM. Ảnh: Xuân Hường
Ăn nên làm ra, cứ sau một năm, Thành mở thêm một shop. Sau hơn 3 năm, chuỗi cửa hàng của Thành đã có 3 cơ sở tại quận Phú Nhuận, quận 10 và quận 8, đem lại lợi nhuận trung bình 100 triệu đồng mỗi tháng.Thành tâm sự: “Lúc còn nhỏ, chạy theo xe nước mía của ba mẹ mỗi lần bị dân phòng rượt đuổi, mình đã nuôi quyết tâm thay đổi cuộc sống gia đình. Thu nhập từ việc kinh doanh bây giờ đã có thể nuôi em trai mình ăn học, giúp gia đình có cuộc sống đầy đủ hơn. Ba mẹ không còn phản đối mà quyết định ủng hộ con trai.”
Shop của Thành không chỉ bán thú cưng, mà còn có những mặt hàng tự chế gần như độc quyền. Chỉ vào kệ để những chiếc chuồng thú bằng mica nhiều màu sắc với đáy lót tấm tản nhiệt, Thành nói tất cả đều do cậu và những người bạn tự thiết kế, chế tạo tại nhà.
“Hamster vốn rất sợ nóng, nên mình đã nghĩ ra việc gắn miếng tản nhiệt ở đáy chuồng giúp các bé mát hơn”, Thành nói.
Chuồng được thiết kế đơn giản bằng mica, có giá rẻ hơn so với các mẫu chuồng sắt nhập từ Thái Lan phổ biến trên thị trường, được khách hàng rất ưa chuộng. Nhiều bạn du học sinh Việt Nam mua hàng rồi mang sang Mỹ, Pháp để nuôi và giới thiệu cho bạn bè, thế là sản phẩm của Thành lại được giao sang tận nước ngoài.
Trần Văn Thành 'khoe' chiếc cầu thang gỗ mà cậu phải ra tận Nha Trang để tìm mua vật liệu. Ảnh: Xuân Hường
Chàng trai trẻ này còn thiết kế và đặt gia công nhiều mẫu đồ chơi cho hamster bằng các chất liệu khác nhau. Thành bảo, cậu hiểu hamster không chỉ cần ăn uống mà phải cho chúng chơi. Cậu phải ra đến tận Nha Trang mới tìm được loại gỗ thích hợp với giá rẻ để tạo nên những chiếc cầu thang gỗ gắn kẽm có thể uốn cong, những ngôi nhà nhỏ hay những tiện nghi nhỏ xíu để cho hamster có một nơi ở thoải mái nhất.Ông chủ trẻ Trần Văn Thành tư duy về việc kinh doanh bằng góc nhìn của một người nuôi hamster lâu năm. Cậu hiểu hamster cần gì, và hiều luôn các khách hàng đa số là sinh viên của mình luôn muốn chăm sóc thú cưng tốt nhất với giá rẻ nhất.
Trước đây, thức ăn của hamster là hạt ngũ cốc được nhập từ Thái Lan với giá cao. Phát hiện ra tất cả những loại hạt ấy đều có thể tìm được ở Việt Nam, Thành tự tìm đến các chợ mua về, tìm hiểu công thức và tự trộn. Thức ăn của Thành làm chỉ có giá bằng một phần ba loại hàng nhập về. Thu nhập “khủng” 100 triệu đồng mỗi tháng của Thành đến từ việc cậu luôn nghĩ về khách hàng đầy tận tâm như thế.
Bây giờ, dù đã là ông chủ của 3 cửa hàng, Thành vẫn giữ số điện thoại của mình làm “đường dây nóng” như thời kinh doanh trên mạng. Mỗi ngày, cậu nhận trên dưới 100 cuộc gọi của khách hàng hỏi về mọi thứ, từ sản phẩm đến kinh nghiệm nuôi hamster. Thành bảo, cậu chưa tự tin giao việc chăm sóc khách hàng của mình cho bất kì ai.
“Ngày xưa nhiều lúc bị stress vì nghe điện thoại nhiều quá, mấy lần phải gọi lại xin lỗi khách hàng vì lớn tiếng. Giờ thì ai cũng nói giọng mình mỗi lần nghe điện thoại nhẹ hẳn đi, chuyên nghiệp hơn nhiều”, Thành khoe.
“Mình còn rất trẻ để có thể nói đến hai chữ “thành công”, nhưng chắc chắn mình sẽ theo đuổi việc kinh doanh dịch vụ nuôi thú cưng này cho đến khi nào không còn ai muốn nuôi thú nữa. Chúng là ân nhân của cuộc đời mình”, ông chủ trẻ Trần Văn Thành nói, tay tỉ mẩn đút thức ăn cho những con hamster mới sinh.

Nguồn: VNEXPRESS

Tổng giám đốc Vinaxuki: Làm ôtô kiếm tiền cũng tốt lắm!

Đến giờ không ít người vẫn nói "ông già làm ôtô" Bùi Ngọc Huyên là gàn, hão huyền, còn ông thủng thẳng đáp lời: "Tôi tin 3-5 năm nữa tôi sẽ lãi. Và lãi không ít. Làm ôtô kiếm tiền cũng tốt lắm".
Mái tóc bạc, dáng người nhỏ bé, giản dị trong bộ đồng phục của nhà máy, vẻ lạc lõng trong gian trưng bày ngoài trời ở một triển lãm hoành tráng, nhưng ông Bùi Ngọc Huyên, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Ôtô Xuân Kiên (Vinaxuki), vẫn đầy nhiệt huyết khi nói về ước mơ sản xuất những chiếc ôtô "made in Vietnam".Chuyện trò với ông bao giờ cũng vậy, người phỏng vấn thỉnh thoảng phải vô phép ngắt lời, vì một khi đã nói về ô tô, ông rất say sưa. Sự nhiệt huyết hiếm còn gặp ở những người tuổi ngoài lục tuần như ông.
Ði lên từ sắt vụn
* Vốn là một anh bộ đội rồi một kỹ sư, cuộc sống cũng ổn định, kiếm được nhiều tiền trong lĩnh vực sản xuất cơ khí, vậy sao ông vẫn còn ôm mộng làm ôtô?
- Tôi ước mơ tự tay làm ra một chiếc ôtô từ lâu lắm rồi. Thật ra khi bé thì hầu hết các cậu con trai đều có những ước mơ như vậy: làm ôtô, chế tạo máy bay… nhưng không phải ai cũng đeo đuổi những mong muốn từ thời trẻ thơ ấy. Còn tôi, ước mơ này được nhen nhóm lên từ những thước phim đen trắng về cảnh ôtô kéo pháo lên Điện Biên Phủ...
Qua hết cấp I, lên cấp II rồi cấp III, vào bộ đội, học đại học, ra trường nhận công tác… tôi vẫn đeo đuổi giấc mơ xe Việt. Bận rộn với "cơm áo gạo tiền", nhưng ước mơ từ thủa nhỏ ấy vẫn ám ảnh tôi. Vậy mà cũng phải chờ đến khi về hưu, tôi mới có đủ điều kiện thực hiện ước mơ của mình.
* Nhưng làm ôtô đòi hỏi tiềm lực rất lớn, trông cậy vào nguồn nào đây?
- Tôi và gia đình khởi nghiệp đi lên từ sắt vụn. Có thể nói như thế, nhưng đấy là sự thật. Mặt khác, tôi cho rằng, mình gặp may nhiều. Tôi mua sắt vụn về chế tạo một chiếc máy cán thép thủ công, bán cho nhà máy Gang thép Thái Nguyên. Lãi lắm, đúng như các cụ nói "một vốn bốn lời".
Rồi làm pêđan xe đạp. Cái này thì một vốn tới mười lời, mua nguyên liệu hết 2 đồng thì bán được 20 đồng. Lãi thế, nhưng sản phẩm vẫn rẻ hơn hàng ngoại mà chất lượng không thua kém gì.
Rồi dần dần thiết kế đến những cái máy phức tạp như máy cán thép. Mình nhận làm rồi đặt người ta gia công từng bộ phận, đúc các chi tiết, thu mua các chi tiết khác vẫn còn chất lượng nhưng bị bỏ đi… Thành cái máy lại bán được một đống tiền.
Cứ thế, từ một căn hộ riêng cho bốn người biến thành một xưởng cơ khí tại gia. Nhưng không chỉ tôi mà vợ và hai đứa con: một gái, một trai đều lao động cật lực. Thấy cái gì làm được mà có tiền là làm. Có tiền, lại đổ không ít vào mua sách kỹ thuật cơ khí để nghiên cứu, mày mò học theo, áp dụng thử vào sản xuất.
Những năm bao cấp hàng hóa khan hiếm, làm ra đến đâu bán hết veo đến đấy. Tích tiểu thành đại, các mặt hàng cứ mở rộng dần dần. Vậy là tích lũy được số vốn không nhỏ. Đến năm 1992, tôi về hưu. Không bị ràng buộc, có điều kiện lại có vốn, tôi quyết định lập "doanh nghiệp tư nhân".
* Nghe vậy có vẻ dễ dàng. Thảo nào ông "xắn" tay vứt cả đống tiền vào làm ô tô để thỏa mãn ước mơ?
- Kể lại thì thấy dễ dàng thôi. Tôi là mẫu người nỗ lực tự mình vượt qua khó khăn, kiên trì đi lên. Thời đó, cái mác "doanh nghiệp tư nhân" thường bị hắt hủi, ghẻ lạnh, chả dễ làm ăn như bây giờ. Chẳng hạn muốn mở mang quy mô thì phải thuê đất, nhưng tư nhân làm sao thuê được?
Tôi phải thuê lại đất đang bỏ hoang của các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ. Thuê lại được đất, xí nghiệp của tôi dần dần đi vào ổn định, sản xuất những mặt hàng cơ khí mới do chính tôi tự thiết kế như: máy cán thép, máy công cụ, dụng cụ công nghiệp cầm tay...
10 năm ròng rã vừa lo mở rộng sản xuất, phát triển gần 100 mặt hàng cơ khí, thiết bị y tế, nội thất... vừa long đong đi thuê đất đai nhà xưởng để giữ cho dây chuyền sản xuất không bị ngắt ở khâu nào... thật không đơn giản. May là có cái tâm nên trời thương, kiên trí nên có thành quả, đúng như ông bà đã dạy.
* Vậy đến khi nào thì Vinaxuki mới "an cư"?
- Năm 2002, một năm đáng nhớ của chúng tôi bởi xin được đất để "an cư" là tôi quyết định thực hiện ước mơ của mình, bỏ tiền xây dựng một xưởng chế tạo ôtô.
Vợ con khi ấy cũng lo, chưa hẳn đã ủng hộ, thậm chí còn bảo tôi "gàn". Kệ! Tôi cứ làm. Nhưng mà có dễ đâu. Vẫn tại cái mác công ty tư nhân, mất ròng rã cả năm trời "chạy" thủ tục hành chính rồi mới được phê duyệt. Cuối cùng, tôi cũng được làm điều mình khao khát.
"Made in Vietnam"
* Dường như theo đuổi ước mơ cũng thật vất vả và quá tốn kém. Có người bảo thế là chơi ngông?
- Thì đúng rồi, nhưng tôi cho rằng, đấy là ước mơ của nhiều người Việt Nam, nhưng người ta không dám làm. Còn tôi thì dám mạo hiểm và nói thật là có điều kiện để đeo đuổi giấc mơ của mình.
Tại sao người Việt tài giỏi, khéo tay, đất nước chúng ta có đủ nguyên liệu để làm cơ khí, sản xuất linh kiện ôtô… mà ta lại không tự mình làm lấy một chiếc ô tô?
Thật ra thì hơn hai mươi năm trước, khi ấy còn là một anh kỹ sư ở Cục Ôtô, tôi đã nói đến ước mơ này, mọi người đều cười cho là "hão huyền".
Khi đó có thể là hão huyền, nhưng bây giờ thì không. Bằng chứng là tôi đã làm ra được chiếc ô tô mang thương hiệu Việt, 3 mẫu xe du lịch tôi làm ra nội địa hóa 60-65% và tự tay tôi đã nội địa hóa được 45-48%. Là tôi tự làm lấy đấy, giá thành lại rẻ, chất lượng tốt.Tại sao người Việt Nam lại không được sử dụng những chiếc xe chất lượng tốt, giá rẻ?
* Nói đến "làm" ôtô ở Việt Nam, người ta thường nhắc đến hai cái tên: ông Dương (Trường Hải) và ông Huyên (Vinaxuki). Nhưng cũng bằng ấy thời gian, ông Dương đang có vẻ hái ra tiền, thương hiệu nổi ầm ầm trong khi ông Huyên lại vẫn đang "phá" là chính chứ chưa thu về được từ ôtô là bao nhiêu, nếu không muốn nói là lỗ?
- Đúng là bây giờ tôi chưa thu được tiền từ làm ô tô (đấy là nói làm xe du lịch, chứ xe tải tôi đang lãi rồi), nhưng tôi tin rằng, chỉ 3-5 năm nữa với sự điều chỉnh, thay đổi chính sách hợp lý từ Chính phủ, nhu cầu sử dụng ôtô tăng cao, nhất định tôi sẽ thành công.
* Ông gần như tự tay làm tất, vậy có quá ôm đồm?
- Tự tay làm thì mới yên tâm về chất lượng, nhưng quan trọng hơn là giảm được rất nhiều chi phí. Tôi tự tin rằng, mình là người Việt Nam duy nhất tự tay thiết kế xây dựng xưởng chế tạo ôtô "made in Viet Nam".
Chưa từng có ông giám đốc nào lại tự tay làm mọi thứ như tôi. Để học cái hay của thế giới, tôi đã từng ngủ qua đêm ở nhà ga Bắc Kinh, lang thang dưới cái lạnh tê tái của mùa đông ở nhà ga sân bay Pháp và những đêm màn trời chiếu đất ở những thành phố công nghiệp của Đức…
Tôi lọc lấy cái hay của công nghệ xứ người rồi áp dụng cho mình, kết hợp với sử dụng vật liệu, thiết bị, nhân công của Việt Nam nên giá thành rẻ hơn rất nhiều. Chất lượng xưởng lắp ráp của tôi không thua kém bất cứ một liên doanh nào khi đó.
Tôi cũng có bể sơn điện ly hiện đại không chỉ nhất ở Việt Nam mà còn được hãng Nippon (Nhật Bản) công nhận là hiện đại và lớn nhất Đông Nam Á. Bể sơn này cũng "made in Vietnam". Khi ấy, mọi người hồ nghi lắm. Người ta không tin một ông già có vẻ bề ngoài nông dân như tôi lại có thể đầu tư nhiều thế, lại có thể làm được ô tô.
Làm được tôi thực sự thấy rất vui, rất phấn khích. Tôi tự hào là người Việt. Đơn giản như tên công ty của tôi cũng vậy. Vinaxuki là cụm từ viết tắt của Việt Nam những mùa Xuân kiên cường.
Ðừng sợ tôi lừa
* Nhưng có một thực tế, đã đành là xe Vinaxuki tốt, ăn ít xăng, máy khỏe, tiêu chuẩn khí thải đạt mức châu Âu I, II, nội địa hóa cao nên giá thành rẻ… nhưng hiện xe chưa được dùng nhiều trên thị trường?
- Người tiêu dùng vẫn có tâm lý mua ôtô là mua những thương hiệu sang, giá trị lớn. Nhưng rồi tâm lý đó sẽ thay đổi. Vì sao phụ nữ Việt Nam không thể mua một chiếc ôtô nhỏ gọn, giá chỉ hơn 200 triệu đồng để đi lại cho đỡ mưa nắng, đưa đón con cho an toàn?
Một chiếc xe máy nhập khẩu có giá tiền gần bằng ngần ấy rồi mà lại phải chịu mưa, chịu nắng. Còn đi ôtô của tôi giá rẻ, tiết kiệm nhiên liệu, khí thải Euro 2, tôi lại bảo hành 3 thậm chí 5 năm, linh kiện phụ tùng thay thế do tôi sản xuất giá chỉ bằng 20% so với các thương hiệu cùng loại.
Chiếc xe Việt đầu tiên mang nhãn hiệu Vinaxuki xuất xưởng. Người đầu tiên dùng thử là tôi. Khi đi giao tiếp làm việc, để giữ hình ảnh cho đối tác tin cậy thì tôi đi loại xe sang trọng, có thương hiệu. Còn bình thường tôi sử dụng chính sản phẩm do mình làm ra, rất tự tin, rất yên tâm.
Khách hàng tiếp theo là một người bạn doanh nghiệp làm đồ nhựa ở Hải Phòng, tiếp theo là một doanh nghiệp Đài Loan...
* Liệu có phải ông quá say sưa sản xuất mà quên đi mảng thương mại. Chỉ cần ví dụ ngay tại triển lãm này, gian hàng của Vinaxuki có vẻ lạc lõng và lép vế rất nhiều so với các nhà sản xuất khác?
- Là tôi chưa làm thôi. Tôi bán hàng thực chất không màu mè. Mọi thứ đều phải dần dần. Tôi đang chú trọng cho sản xuất. Cái này mới thực sự tốn kém tiền của và thời gian, chứ đầu tư cho bán hàng thì chả hết mấy.
Khi nào sản phẩm bán được nhiều tôi sẽ đẩy mạnh thương mại. Khách hàng cứ yên tâm. Tôi là doanh nghiệp Việt, không bỏ chạy đi đâu mất. Tham gia triển lãm, dù chỉ còn mỗi gian hàng ngoài trời tôi cũng chấp nhận. Ít nhất, ngành ôtô vẫn có doanh nghiệp Việt tham dự cho dù là duy nhất.
Tôi mạo hiểm, nhưng tôi có niềm tin
* Ông có bao giờ ngó sang bên Trường Hải và thắc mắc vì sao họ kiếm bộn tiền còn mình vẫn lỗ? 
- Ồ cũng là làm, nhưng chúng tôi làm khác nhau. Trường Hải là lắp ráp và thương mại. Con đường đó đương nhiên thu lợi nhuận nhanh. Còn tôi sản xuất từ linh kiện, phụ tùng, từ đầu tư khuôn dập thân vỏ, sơn, hàng… Vậy nên, khác nhau lắm. Và đương nhiên đường đi của tôi dài hơn, mạo hiểm hơn, nhưng chắc và chuẩn.
* Lúc này, dường như niềm tin vào ngành ôtô Việt đang tàn lụi. Một mặt, ông vẫn "kêu" về những bất hợp lý trong chính sách, nhưng vẫn không lụi tắt niềm say mê của mình?
- Chính sách của chúng ta hiện chưa khuyến khích đầu tư sản xuất ô tô trong nước, chưa khuyến khích nội địa hóa. Nhìn sang các nước trong khu vực sẽ thấy họ có chính sách khuyến khích hỗ trợ rất rõ ràng. Nội địa hóa đến đâu, thuế giảm theo đến đó… Còn ở ta thực sự là chưa hợp lý.
Thuế phí nhiều quá, chiếm tới quá nửa xe, lại không có sự phân biệt phương tiện trong nước sản xuất dùng đi lại hàng ngày và xe sang trọng nhập khẩu. Tại sao lại coi một chiếc xe giá trên 200 triệu đồng là hàng xa xỉ như một chiếc xe giá 3-4 tỷ đồng để thuế phí tính như nhau, áp dụng chính sách như nhau?
Phải có chính sách hỗ trợ khuyến khích thực sự cho nội địa hóa sản phẩm. Như doanh nghiệp nội địa hóa bao nhiêu phần trăm thì giảm thuế bấy nhiều phần trăm hay có chính sách ưu đãi cho dòng xe được xác định là xe quốc gia…
Nhưng tôi cho là Việt Nam chưa làm chứ không phải là không khuyến khích phát triển ngành ôtô trong nước. Tôi tin sau khi nghe được các ý kiến phản ánh đúng đắn, tham mưu hợp lý, kịp thời, Chính phủ sẽ nhìn thấy và có các chính sách hợp lý. Tôi đặt niềm tin vào điều đó bởi phát triển sản xuất trong nước là bước đi đúng đắn, vững chắc nhất.
Tới đây, tôi vẫn sẽ tiếp tục kiến nghị để có chính sách hỗ trợ cho dòng sản phẩm giá rẻ, chất lượng tốt phù hợp với kinh tế và giao thông đi lại tại Việt Nam.
Kiến nghị này của tôi cũng rất được Bộ Công Thương ủng hộ. Nếu có sự hỗ trợ về chính sách, thuế của nhà nước, sản phẩm của tôi sẽ rẻ hơn bây giờ khá nhiều. Nhất định các sản phẩm mang thương hiệu Việt như của Vinaxuki có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
* Vậy ông có đủ sức thuyết phục ngay chính các thành viên gia đình của mình, những người cũng đang tham gia vào điều hành doanh nghiệp?
- Cũng đúng thôi, đang lỗ nên các con tôi không muốn làm. Nhưng tôi tin 3-5 năm nữa tôi sẽ lãi. Và lãi không ít. Làm ôtô kiếm tiền cũng tốt lắm. Chỉ là phải cần có thời gian!
* Xin cảm ơn ông!
Trên bàn làm việc của ông Huyên có một chiếc đồng hồ khá lớn chạy bằng bánh răng truyền động. Bên cạnh đó là một cuốn sách cũ có nhan đề "30/4/1975, Bản anh hùng ca thế kỷ XX". Ông bảo: "Tất cả những bánh răng truyền động phải liên kết tốt để kéo cả dây chuyền chạy. Tôi là người quản lý nên tôi muốn các bộ phận, phòng ban, phân xưởng của công ty phải hoạt động nhịp nhàng như chiếc đồng hồ. Còn cuốn sách để nuôi dưỡng ước mơ của tôi, ngay từ những ngày chạy trên chiếc xe chở bộ đội vào Nam giải phóng đất nước".

Quyết định táo bạo của ông Bùi Ngọc Huyên:

Năm 1992: Đầu tư gần 10 triệu USD cho nhà máy sản xuất khuôn mẫu dập ép vỏ và đúc phụ tùng xe ô tô. Vinaxuki hiện là nhà máy ô tô duy nhất trong nước chế tạo được khuôn mẫu dập vỏ ô tô. 
Năm 2003: Vinaxuki đầu tư gần 20 triệu USD một xưởng dập ép vỏ xe hiện đại. Hiện nhà máy này đã nội địa hóa được toàn bộ cabin, thùng, chassic với giá thấp hơn nhập khẩu tới 40%. 
Năm 2004: Vinaxuki đầu tư hoàn thiện dây chuyền sơn nhúng điện ly, được hãng Nippon (Nhật Bản) công nhận là hiện đại và lớn nhất Đông Nam Á.
Năm 2005: Vinaxuki đưa ra thị trường những chiếc xe đầu tiên với qui trình sản xuất khép kín hiện đại từ khâu làm khuôn, dập vỏ xe, hàn và sơn, công suất thiết kế 25.000 xe/năm.

Nguồn: DĐDN

"Tỷ phú ẩn danh của Việt Nam"

Hãng tin tài chính Bloomberg ngày 25/10 có đăng một bài viết về doanh nhân Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Tập đoàn Vingroup.
Trong bài viết này, ông Vượng được giới thiệu là đã vươn lên trở thành tỷ phú USD với bước đầu khởi nghiệp từ kinh doanh mỳ ăn liền ở Ukraina và sau đó đã sáng lập nên công ty bất động sản lớn nhất ở Việt Nam.
Ông Phạm Nhật Vượng: "Nếu anh đưa cho tôi 10 tỷ USD, tôi sẽ dùng tất cả số tiền đó đầu tư vào xây dựng vì còn quá nhiều thứ phải xây. Nhu cầu tại Việt Nam vẫn rất lớn"
Năm nay 44 tuổi, ông Vượng đang xây dựng 8 dự án bất động sản đa năng tại các vị trí đắc địa ở Việt Nam với tổng chi phí dự kiến hơn 4 tỷ USD. Ông còn muốn làm giầu hơn nữa cho công ty của mình bằng cách bán các căn hộ trung - cao cấp cho người dân muốn đa dạng hóa các tài sản nắm giữ chứ không còn chỉ giữ tiền mặt và vàng như trước nữa, Bloomberg cho biết.

"Người dân Việt Nam hiện đang còn đang giữ một lượng vàng lớn. Người Việt Nam có một điểm tương đồng với người Trung Quốc, đó là họ không thể cứ giữ vàng dưới chân giường mãi được. Thế nào rồi cũng có lúc họ sẽ phải lấy ra và mang đi đầu tư. Và điều này sẽ giúp cho thị trường bất động sản bùng nổ", ông Vượng chia sẻ trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Bloomberg.
Doanh nhân này và vợ, bà Phạm Thu Hương, hiện nắm giữ khoảng 50% số cổ phiếu của Vingroup, doanh nghiệp lớn thứ 5 ở Việt Nam về giá trị vốn hóa thị trường. Bởi vậy mà Bloomberg gọi ông là “tỷ phú ẩn danh của Việt Nam”. Cho đến nay, ông Vượng chưa từng xuất hiện trên các xếp hạng tỷ phú của thế giới, Bloomberg cho biết.
Vingroup hiện đang có kế hoạch huy động khoảng 300 triệu USD vào năm sau thông qua việc chào bán và niêm yết cổ phiếu của công ty tại Singapore để bổ sung vốn cho việc mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Năm ngoái, Vingroup đã gác lại kế hoạch niêm yết cổ phiếu tại thị trường Singapore sau khi chỉ số Straits Times Index của thị trường này giảm 17%.

Tỷ phú này cũng cho biết, ông có tham vọng xây các dự án địa ốc ở Singapore và Hồng Kông, nơi có những công ty bất động sản vào hàng lớn nhất của châu Á.


Trước đây, ông Vượng theo học ngành kinh tế địa chất thuộc Đại học Địa chất Moskva tại Nga. Sau khi tốt nghiệp, ông chuyển tới Ukraine, thành lập nên công ty thực phẩm LLC Technocom. Công ty này sản xuất hơn 100 sản phẩm khác nhau, từ mỳ ăn liền tới khoai tây nghiền.


Vào năm 2010, ông bán LLC Technocom cho tập đoàn Nestle SA, mức giá bán không được tiết lộ. Ở thời điểm đó, công ty này có mức doanh thu trên 100 triệu USD/năm. Tuy nhiên, ông Vượng từ chối bình luận về giá bán do thỏa thuận về bảo mật giữa hai bên.

Ông Vượng bắt đầu đầu tư về Việt Nam từ năm 2001. Đó cũng là thời điểm mà ông thành lập nên công ty du lịch khách sạn mang tên Vinpearl. Năm 2002, ông thành lập Vincom, công ty chuyên phát triển các dự án bất động sản thương mại và nhà ở trung - cao cấp.
Vinpearl và Vincom đều là công ty niêm yết và đã sáp nhập thành Vingroup trong năm nay. Hiện Vingroup đang nắm lợi ích kiểm soát trong 19 dự án bất động sản đa năng và nghỉ dưỡng mà tập đoàn này đang xây dựng tại Hà Nội, Tp.HCM, Hưng Yên và Đà Nẵng.

Dự án đa năng Royal City của Vingroup tại Hà Nội có giá bán căn hộ từ 1.800-2.500 USD/m
2. Khi hoàn thành vào năm tới, dự án này sẽ có công viên nước trong nhà và sân trượt băng đầu tiên ở Việt Nam.

Là một ông bố 3 con, ông Vượng nói ông muốn đem đến “trải nghiệm cuộc sống” mới cho người dân Việt Nam.


Theo chuyên gia phân tích Phương Tôn của Công ty Chứng khoán Bản Việt, thì vị trí đẹp chính là nhân tố giúp cho Vingroup bán được nhà với giá cao. Ngoài ra, một thế mạnh của Vingroup, theo bà Tôn, là công ty này có thời gian hoàn tất dự án nhanh chóng. Bà Tôn hiện khuyến nghị các nhà đầu tư nên giữ cổ phiếu của Vingroup.


Vincom Center A của Vingroup mới khai trương hôm 10/10/2012 tại TP.HCM
“VIC có một lợi thế đặc biệt về vốn, đó là lý do tại sao họ có thể thực hiện được các dự án đòi hỏi vốn đầu tư lớn ngay từ khi bắt đầu thực hiện”, bà Tôn nhận định. Năm nay, Vingroup đã huy động được 300 triệu USD nhờ phát hành trái phiếu chuyển đổi cho các nhà đầu tư quốc tế. Vào năm 2009, doanh nghiệp này là công ty Việt Nam đầu tiên phát hành trái phiếu chuyển đổi ở nước ngoài, huy động được 100 triệu USD.Ông Vượng cho biết sẽ thực hiện dự án bất động sản ở nước ngoài “khi nào có cơ hội tốt”. Năm nay, ông đã thuê hãng tư vấn McKinsey & Co. thực hiện rà soát chiến lược hoạt động kinh doanh của Vingroup và tư vấn công ty về chiến lược tương lai.

“Với tầm nhìn của họ thì việc bó buộc trong biên giới Việt Nam sẽ hạn chế tiềm năng phát triển của họ”, bà Tôn nói về Vingroup. Ông Vượng thường tới thăm nhiều thành phố nước ngoài để tìm kiếm ý tưởng khi xây dựng các dự án của mình.

Ông cũng là người coi trọng nguyên tắc và trao thưởng xứng đáng cho những ai làm việc hiệu quả với chất lượng tốt, luôn nhấn mạnh khẩu hiệu “tốc độ, sáng tạo và hiệu quả trong từng hành động” đối với nhân viên.
Bloomberg viết, nhà tỷ phú này thường chơi bóng đá và bóng rổ mỗi tuần với các nhân viên của mình tại trung tâm thể thao của công ty. Trong bộ đồ thể thao và giày đá bóng, ông thường chơi ở vị trí tiền đạo, người giữ nhiệm vụ ghi bàn cho đội bóng.
“Tấn công hơn là phòng thủ”, nguyên tắc này được vị chủ tịch tập đoàn bất động sản lớn nhất Việt Nam áp dụng cho tất cả mọi việc ông làm.

Nguồn: VnEconomy

CEO Mobiistar Carl Ngô Nguyên Kha: Lấy nông thôn vây thành thị

Với chiến lược Smartphone thương hiệu Việt, Mobiistar đã ghi dấu ấn thành công ngay trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, thiếu hụt sức mua và thị trường điện thoại thương hiệu Việt đuối sức trên sân nhà hiện nay.
Cuộc trò chuyện với Carl Ngô Nguyên Kha - Giám đốc điều hành Mobile Star - DN sáng lập và sở hữu Mobiistar từ tiền thân P&T Mobile - cho thấy không hẳn điện thoại Việt đã “hết đất sống”, và những điều đang đón đợi các DN điện thoại Việt ở phía trước.
Tìm một chỗ trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu
* Xin được bắt đầu bằng một câu hỏi mà bất kỳ ai là người Việt, cũng thấy “nóng” : Tại sao một thương hiệu điện thoại của VN, nhưng nhà máy sản xuất lại đặt ở Trung Quốc, thưa anh?
- Rất đơn giản, ở Trung Quốc có “vùng nguyên liệu”, hay còn gọi là công nghiệp phụ trợ, hỗ trợ cho ngành sản xuất điện thoại di động nói riêng và các sản phẩm điện tử nói chung. Họ có những tỉnh, thành phố, khu công nghiệp chỉ chuyên sản xuất điện thoại đi động và các sản phẩm phụ trợ, bao quanh đó là các DN về cung ứng vỏ cứng, cung ứng bao vỏ hộp, làm khuôn...
Cũng cần phải nói thêm là hầu hết những thương hiệu điện thoại nổi tiếng hiện nay, đều đặt nhà máy sản xuất ở Trung Quốc. Có lẽ cũng vì nguyên do này.
Tuy là sản xuất ở Trung Quốc, nhưng “đầu não” nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện của sản phẩm Mobiistar vẫn ở VN. Thiết lập hoặc ứng dụng phần mềm cho sản phẩm, thiết kế sản phẩm, khảo sát thị trường và chăm sóc khách hàng của Mobiistar đều là người VN, và của VN, đặt tại VN. Các đối tác sản xuất ở Trung Quốc là các đơn vị “outsourcing” theo đơn hàng của Mobile Star.
* Dù vậy, anh có thấy “lấn cấn” và mong muốn có một nhà máy sản xuất Mobiistar tại VN?
- Có không ít khách hàng đặt câu hỏi giống như chị. Họ tha thiết muốn có sản phẩm Việt 100%, do người Việt gia công, sản xuất. Vấn đề ở đây là chúng tôi có thể có vốn liếng, có thể đầu tư nhà máy, nhưng những khâu còn lại như đã nói ở trên, thì giải quyết ra sao?
Khi không có vùng nguyên liệu ngay sẵn bao quanh nhà máy, không có các nhân công chuyên gia công sản xuất sản phẩm điện thoại, chúng tôi sẽ phải “nhập khẩu”.
Như vậy không những tăng chi phí cơ hội mà chi phí cấu thành sản phẩm cũng tăng rất nhiều. Trong thời đại hiện nay, chúng ta vẫn hay đề cao “Just in time” - Đúng thời điểm. Nếu không đúng thời điểm thì không còn được người tiêu dùng đón nhận.
Không đúng thời điểm thì giá sản phẩm cũng có sự dao động và gia tăng rất lớn. Và không giải quyết được những vấn đề đó, cũng không còn lợi thế của Mobiistar là sản phẩm tốt nhưng giá hợp túi tiền người dân được nữa!
* Có nghĩa là trong tương lai, người Việt vẫn rất khó mơ về một thương hiệu điện thoại thuần Việt?
- Cá nhân tôi có suy nghĩ khác. Bây giờ đã là thời đại của kinh tế toàn cầu. Mọi sự phân công lao động hợp lý và bản thân mình có được sự đóng góp của mình trong một vị trí, công đoạn nào đó của chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu, qua đó tìm kiếm được giá trị gia tăng, tôi cho đã là rất tốt. Không nhất thiết một DN phải làm hết từ đầu đến cuối ! Và không nhất thiết phải phân biệt mọi công đoạn, xuất xứ các công đoạn một khi đã gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu.
* Nhưng có lẽ nếu không vì một ước mơ điện thoại thương hiệu Việt, hẳn anh đã không từ bỏ vị trí rất được nhiều người mơ ước trước đây - Trưởng đại diện Sony Ericsson VN - vị trí anh bắt đầu từ năm 30 tuổi?
- Giữa việc xây dựng một sản phẩm, thương hiệu của riêng Cty mình, chăm chút cho mỗi sản phẩm ngay từ những đường nét chi tiết nhất để nó long lanh, vừa ý người tiêu dùng, chắc chắn sẽ khác nhiều so với việc quảng bá - marketing về chất lượng, vẻ đẹp của một sản phẩm không phải của chính mình.
Công việc ở vế thứ nhất như vậy theo tôi cũng thú vị hơn. Đương nhiên, với mỗi người điều đó sẽ được đánh giá khác nhau, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ với đại đa số những người làm kinh doanh, ngoài kinh doanh thu lợi nhuận, ai cũng mong có được những “đứa con” của mình, được chăm bẵm nó, nhìn nó lớn lên.
Quan trọng nhất: Khách hàng muốn gì!
* Vậy là khi đặt ra việc sản xuất và xây dựng nhãn hàng Mobiistar, P&T Mobile lúc ấy cũng không chỉ tính đến chuyện thu lợi?
- Có nhiều người do sở thích hoặc năng lực, mục tiêu, ngay từ đầu và cho đến về sau, họ chỉ chọn công việc phân phối. Sự phân công lao động và lựa chọn của mỗi người và điều đó khiến bức tranh kinh doanh phong phú hơn.
Để xác định được vị trí trong một chuỗi giá trị trong kinh doanh, người làm kinh doanh bao giờ cũng phải hiểu mình muốn gì và quan trọng hơn hết, là các đối tượng khách hàng mục tiêu của mình muốn gì.
Từ đó, mới thiết lập các công việc, hoạt động, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được mong muốn của các khách hàng mục tiêu. Điều đó quyết định ta chọn tham gia công đoạn nào hay sẽ đi từ đầu đến cuối sự ra đời, vận hành guồng máy phân phối một sản phẩm.
Thật ra nếu nhìn lại công việc của P&T, tiền thân của Mobile Star hôm nay, chúng tôi đã bắt đầu từ việc phân phối các sản phẩm, nhãn hàng khác. Nhờ các kinh nghiệm trong việc bán hàng, ra mắt các sản phẩm quốc tế, chúng tôi chọn con đường cho ra đời các dòng sản phẩm mới của mình hôm nay.
* Thị trường điện thoại thương hiệu Việt có khá nhiều “ông lớn”, như VNPT, FTP, Viettel... Vậy đâu là lợi thế cạnh tranh của Mobile Star bên cạnh những “nhà giàu” này?
- Chúng tôi cũng không đặt nặng vấn đề phải cạnh tranh, mà chỉ quan tâm đến chuyện mình có hiểu người tiêu dùng hay không, và làm thế nào để người tiêu dùng có cảm hứng muốn mua, muốn sử dụng không chỉ vì thấy nó hợp túi tiền.
Vì lý do đó, chúng tôi cũng huy động mọi khả năng có thể từ cộng sự, nhân viên để tập trung cho ra sản phẩm tốt nhất, để những đại lý phân phối, bán hàng cũng thấy họ có lý do, có lợi ích thực sự khi lựa chọn sản phẩm của chúng tôi và mang đến cho người tiêu dùng. Đó là cách mà chúng tôi cố gắng để phát triển, và cũng phù hợp với quy mô của Mobile Star.
* Anh có thể giới thiệu đôi chút về các dòng sản phẩm của Mobiistar?
- Chúng tôi hiện có 5 dòng sản phẩm chính : Dòng 1 là các sản phẩm chuyên dùng nghe gọi đơn giản, dòng B. Dòng 2 là @ với đặc trưng là các bàn phím tiện ích cho nhắn tin message.
Dòng 3 là sản phẩm với những tiện ích dành cho người nghe nhạc - M. Dòng thứ 4 với các đặc trưng dành cho người yêu thích thời trang - Fashion. Còn mới đây chúng tôi có thêm S - Smartphone, cho làn sóng ưa chuộng các sản phẩm này vốn mới bùng nổ.
Trong mỗi dòng chúng tôi thường có những nhóm sản phẩm với các đặc trưng khác nhau. Ở giai đoạn hiện nay thì có lẽ Smartphone theo tôi vẫn sẽ là dòng sản phẩm có thể khai triển trong tương lai. Nhưng “tương lai” trong lĩnh vực kinh doanh này cần phải hiểu chỉ có ý nghĩa đôi khi rất ngắn, vì sự thay đổi và chuyển biến là không ngừng.
* Nghĩa là một DN sản xuất và kinh doanh điện thoại khó có thể xây dựng, định vị và trông cậy vào một dòng sản phẩm chính, dù đó là dòng nào?
- Cách đây một năm, chúng tôi đã dự báo sẽ có làn sóng sử dụng Smartphone tại VN. Căn cứ trên dự báo đó, chúng tôi đã đưa ra sản phẩm Pre-Smartphone (tiền smartphone), với khoảng 7 sản phẩm.
Cách đây khoảng 3 tháng chúng tôi cho ra đời sản phẩm Touch S01, ứng dụng hệ điều hành Android với 3G, giá dưới 3 triệu VND và được người tiêu dùng đón nhận, tạo ra độ nóng nhất định. Có thể nói đây là dòng sản phẩm thành công của Mobiistar hiện nay.
Ngay sau đó, chúng tôi giới thiệu điện thoại Touch S02, smartphone android với kết nối wifi, giá khoảng 1,8 triệu đồng. Chúng tôi cũng được đón nhận tốt với sản phẩm Touch Lai 5, sản phẩm “lai” giữa máy tính bảng và điện thoại thông minh.
Trong tháng 9 này, chúng tôi có sản phẩm Touch S03 với màn hình 4.0, chạy HĐH Android, kết nối 3G mà giá có 2,8 triệu, Đặc biệt là sản phẩm Touch Kem 430 với phiên bản Ice Cream Sandwich (Android 4.0) giá khoảng 3,4 triệu.
Nói vậy để thấy: chưa nói đến chuyện đi đầu, đón trước, nắm bắt được xu hướng thị trường, chỉ mỗi việc bắt kịp thôi thì DN đã không thể dừng lại ở một vài sản phẩm và cứ thế sản xuất hoài. Thế giới ngày càng thông minh và bất kỳ DN nào trong ngành này muốn tồn tại, cũng phải không ngừng đón trước và thay đổi !
* Nói như vậy, có thể kỳ vọng vẫn còn có những “ngách” để các nhãn hàng điện thoại Việt phát triển?
- Tôi cho là mọi sự so sánh đều rất khó chính xác. Các nhãn hàng quốc tế đa phần đều đã định vị mình và có những dòng sản phẩm rất nổi tiếng. Các nhãn hàng trong nước tuy cũng có lợi thế riêng trên thị trường nội địa, nhưng khó khăn vẫn là chính. Chúng tôi cố gắng khai thác những lợi thế riêng trên thị trường nội địa, để làm ưu thế phát triển của mình.
Lấy ví dụ cùng là một sản phẩm điện thoại Smartphone, với thương hiệu quốc tế, người tiêu dùng phải trả tiền gấp đôi, hoặc gấp ba trong khi một sản phẩm tương tự của thị trường nội địa, chất lượng khoảng một 8 một 10, thì chỉ phải trả một cái giá rẻ bằng 1/2, thậm chí 1/3. Để làm được như vậy, chúng tôi tiết giảm mọi chi phí.
Chúng tôi tiết kiệm thay cho khách hàng để cùng một đồng chi phí bỏ ra, khách hàng được “tận hưởng nhiều hơn” như slogan của chúng tôi.
Nhưng rất khó để có thể nói rằng liệu đó có phải ngách cho nhãn hàng điện thoại Việt cùng tìm đường hay không.
* Vậy Mobiistar sẽ tiếp tục đối mặt với những ngả đường phía trước, bằng “kim chỉ nam hành động” nào?
- Đẹp. Độc. Đã. – đó là những ”từ khóa” chúng tôi đã đề ra khi giới thiệu dòng sản phẩm điện thoại xem phim 3D không cần đeo kính. Đây là kim chỉ nam Mobiistar hướng tới để khách hàng của mình “tận hưởng nhiều hơn”.
* Xin cảm ơn và chúc anh thành công!

"Đứa con trai đi lạc của Singapore"

Trở thành triệu phú ở tuổi 29 và nhận bằng tiến sĩ kinh tế trước khi bước qua tuổi 30, ít ai ngờ được Leong Kaiwen từng là nạn nhân bị lạm dụng tình dục trước khi đạt đến đỉnh cao thành công.
Giáo sư kinh tế tại đại học Công nghệ Nanyang (NTU) vừa ra mắt cuốn tự truyện hôm 1/10, với nhan đề "Đứa con trai đi lạc của Singapore".Ở tuổi 31, Leong là người đàn ông thành đạt và giàu có. Tuy nhiên, cuốn sách kể về hành trình cuộc đời của anh lại tiết lộ một khía cạnh khác, đó là những cuộc đấu tranh cá nhân, những thất bại trong học hành và cả chuyện bị lạm dụng tình dục từ khi chỉ mới là cậu bé 10 tuổi.

Trong cuộc phỏng vấn với Straits Times hồi đầu tuần, Leong nhớ lại thử thách kéo dài hơn một năm, khi anh bị một huấn luyện viên võ thuật mà anh rất tin tưởng tấn công tình dục.Võ sư này thường xuyên yêu cầu anh đến lớp sớm để giúp kê đồ đạc, rồi lợi dụng để động chạm vào những phần nhạy cảm trên cơ thể Leong. Cứ thế hơn một năm, Leong suy sụp.

"Kể từ sau chuyện đó, tôi rất khó lòng tin ai. Tôi cảm thấy tất cả mọi người đều có động cơ bí mật", Leong nói.
Khi Leong kể chuyện này với bố mẹ, họ không tin anh và cho rằng con trai bịa chuyện để bỏ học. Điểm thi tốt nghiệp tiểu học của Leong chỉ đạt 200, một trong những điểm thấp nhất toàn Singapore năm đó. 6 năm sau, anh vẫn không thể tập trung vào học hành. Lên cấp hai, Leong thường xuyên bị bạn bè bắt nạt, đánh đập chỉ vì dáng người nhỏ con.
Tuy nhiên, anh tự động viên bản thân mình cứng rắn và trở nên ngạo mạn khi bước chân vào trường cao đẳng.
"Tôi đứng cách xa giáo viên khi họ nói chuyện với tôi. Khi họ lăng mạ tôi và chê tôi là tầm thường, tôi vặn lại rằng họ là những người mất trí", Leong kể.
Thái độ thách thức và việc nghỉ học thường xuyên khiến Leong nhanh chóng bị đuổi học chỉ chưa đầy một tháng sau khi bước vào năm nhất. Nhờ mẹ giúp đỡ, Leong được một trường cao đẳng khác nhận vào học. Tuy nhiên, một lần nữa anh bị đuổi khỏi trường chỉ vài tuần sau đó.
"Tôi cố gắng thích nghi nhưng không thể. Không giáo viên nào có thể biết được tôi đến từ đâu", anh nói. Anh bỏ học thêm hai lần nữa với lý do tương tự. Sau khi bị đuổi khỏi 4 trường cao đẳng chỉ trong vòng nửa năm, Leong thử xin học ở một trường tư.
Ở đó, một cô giáo đã khiến anh thức tỉnh. Anh viết trong cuốn sách của mình rằng những lời nói của cô ấy đã làm thay đổi thái độ của anh: "Em còn yếu lắm. Và em biết điều đó. Em ồn ào và ngạo mạn, nhưng đó không phải là sức mạnh. Sức mạnh thực sự chính là sự im lặng".

"Cuộc phiêu lưu mùi hương"

Leong rời trường tư và quyết định tự học. Anh vượt qua tất cả các môn và được đại học Boston, Mỹ nhận vào học. Leong trải qua những ngày tháng nặng nề ở nước Mỹ, khi bố mẹ anh thua lỗ nặng vì bị người chú lừa đảo về giá cổ phiếu của công ty. Bố mẹ của Leong đầu tư rất mạnh vào cổ phiếu. Mẹ anh phải bán hết đồ trang sức để trả tiền học phí năm đầu cho con trai.
Quyết tâm chứng minh với bản thân và gia đình rằng mình không phải là một kẻ thất bại, Leong quyết định hoàn thành hai bằng cử nhân về kinh tế và toán học, cùng hai bằng thạc sĩ, trong vòng 4 năm, chỉ bằng một nửa so với thời gian thông thường.
Để làm được điều đó, Leong chỉ ngủ 4 giờ một đêm. "Tôi không cần cà phê. Tôi không cần bất cứ loại thuốc nào", anh viết.
Anh cũng không có tiền vì bố mẹ đang ở bên bờ vực phá sản. Leong sống bằng cách ăn một củ khoai tây luộc mỗi ngày. Anh kể lại những "cuộc phiêu lưu mùi hương" của mình khi đứng ké bên bếp để ngửi mùi thức ăn và nhai củ khoai tây của mình.
"Đó là cách tôi ăn thịt nướng và tôm hùm, trí tưởng tượng của tôi như một con dao và ý chí của tôi là một cái nĩa", anh viết. Sau đó, những cơn đói được xoa dịu phần nào khi anh được phép ăn những chiếc bánh sandwich người ta để lại trên bàn.
Mọi thứ dần bình thường trở lại khi anh nhận được học bổng đại học vào năm thứ hai, nhưng Leong vẫn tiếp tục đi dạy kèm và đầu tư vào cổ phiếu. Trong cuốn tự truyện, Leong gọi việc anh tốt nghiệp năm 2007 là "sự chuộc lỗi của tôi". Đó là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất mẹ sang Boston thăm anh, do chi phí đi lại tốn kém.
Anh viết rằng bà không hay biết gì về thành tích học tập của con trai. "Tôi đã nuôi dưỡng mỗi thành công, kể cả lớn hay nhỏ, coi như một kho báu vật".
Leong cho biết ngoại trừ vợ, mẹ là "người duy nhất động viên anh, không bao giờ dùng những lời lẽ cay nghiệt với anh, kể cả khi học hành chẳng ra gì ở trường. "Mẹ là thế giới của tôi. Vợ tôi biết rằng mẹ tôi luôn là số một".
Sau khi tốt nghiệp, anh dành một năm đầu tư vào thị trường bất động sản ở Trung Quốc, với hy vọng giảm bớt cơn khủng hoảng tài chính của gia đình. "Tôi đã mua thấp và bán lại cao. Rất cao. Đó là cách tôi làm ra những triệu đôla đầu tiên của mình", anh nói.
Từ năm 2008 đến năm ngoái, Leong hoàn thành chương trình học bổng tiến sĩ toàn phần tại đại học Princeton, chuyên ngành kinh tế. Anh hiện làm việc với vai trò một nhà kinh tế tại một cơ quan thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore.
"Cuối cùng, tôi cũng có thể quay về nước phục vụ. Tôi không còn là đứa con trai đi lạc nữa rồi", anh viết. Những mất mát và thất bại trước khi đạt đến thành công là những gì Leong muốn nhấn mạnh trong cuốn sách của mình. Anh hy vọng nó sẽ đốt cháy niềm hy vọng vào cuộc sống của những con người đang cảm thấy mình bị chối bỏ và cô độc.
"Tôi đã bước đi trên con đường ấy, và bạn cũng có thể", anh viết.

Nguồn: VNEXPRESS

Làm giàu từ món ăn Việt ở Mỹ

Đặt chỗ ở nhà hàng Slanted Door của Charles Phan là một thử thách, bởi ở đây luôn chật kín khách đến thưởng thức những món ăn Việt không xa lạ nhưng được chế biến thành những tuyệt phẩm.
Dường như để khắc phục việc thực khách phải chờ hàng tuần để có cơ hội thưởng thức món mình nấu, ông chủ gốc Việt Charles Phan, 50 tuổi, đã ra mắt cuốn sách mang tựa đề "Vietnamese Home Cooking".
Phan cho biết cuốn sách gồm 226 trang, có giá 35 USD, đơn giản là sách hướng dẫn cách nấu món ăn Việt tại nhà, cung cấp hiểu biết chung về nền ẩm thực Việt Nam, cách thưởng thức món ăn.Đặc biệt, cuốn sách tiết lộ những câu chuyện thú vị đằng sau những món ăn có trong thực đơn của Slanted Door từ khi mở cửa năm 1995 và kỹ thuật nấu nướng khiến những món ăn ở đây trở nên đặc biệt.
Cấu trúc cuốn sách của Phan không sắp xếp theo món ăn mà theo kỹ thuật nấu. Anh cho rằng mọi người chỉ thường mua sách để biết một công thức nấu ăn mà không hiểu được những quy tắc cơ bản và cách kết hợp các nguyên liệu.
"Nếu bạn học cách chiên, xào, om, nướng, cách kiểm soát ngọn lửa, bạn có thể làm bất cứ điều gì", San Joe Mercury News dẫn lời anh. "Về cơ bản cuốn sách tương tự những gì chúng tôi đang làm ở Slanted Door, quảng bá ẩm thực Việt với những nguyên liệu địa phương", anh nói.
Anh bắt đầu đi làm ở nhà hàng khi đang học cấp ba. Mỗi tuần Phan làm việc 3 buổi tối, cho đến tận hai giờ sáng và nấu bữa ăn 6 món cho 5 người bạn trong phòng ký túc xá. "Mọi người nghĩ tôi bị dở hơi", anh kể.
Anh trải qua nhiều công việc nhưng không thành công và quyết định đi du lịch một thời gian. Tuy nhiên, trong tâm trí anh, ước mơ về một nhà hàng vẫn luôn day dứt.Bước ngoặt của cuộc đời Phan là khi anh đến châu Á năm 1994 và quyết định rằng "mình phải làm việc cho chính mình". Thế rồi nhà hàng Việt Nam Slanted Door ra đời một năm sau đó.
Đây là nhà hàng Việt Nam đầu tiên chuyên phục vụ các món ăn Việt chất lượng cao trong vùng, với các nguyên liệu địa phương tươi ngon nhập trực tiếp từ trang trại.
"Thừa thắng xông lên" sau Slanted Door, ông chủ Phan phát triển một "đế chế nhà hàng" nhỏ ở vùng vịnh San Francisco với những nhà hàng như Heaven's Dog, Academy Cafe hay Wo Hing General Store.
Năm 2004, anh giành giải Đầu bếp Giỏi nhất của Quỹ James Beard, giải thưởng được xem là "Oscars của Ẩm thực" Mỹ.
Phan cho biết bí quyết để nấu ngon là trước hết phải học cách ăn.
"Khi bạn thưởng thức nhiều món ăn ngon, bạn bắt đầu xây dựng cho mình vốn từ vựng về hương vị. Bạn hình dung ra hình ảnh món ăn và cách để làm chúng", anh nói.
"Đừng chỉ đến và nói với tôi rằng thức ăn rất tuyệt. Tôi nói thế với tụi trẻ con nhiều rồi. Mục tiêu của tôi là thực sự khiến mọi người nghiện thức ăn ngon. Có nhiều thứ gây nghiện, nhưng tôi nghĩ nghiện thức ăn thì tốt hơn, vì chúng ta tìm thấy niềm vui trong đó".

Nguồn: VNEXPRESS

Bà Nguyễn Thị Điền, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty May thêu Giày An Phước: "Còn sức khỏe là còn đam mê"

Từ cơ sở may chỉ có vài chục người, An Phước đã trở thành công ty lớn với hàng ngàn công nhân và là thương hiệu hàng đầu Việt Nam. Đó là chặng đường không ít truân chuyên, bao lần con thuyền doanh nghiệp chòng chành trước sóng gió thương trường. Nhưng dưới sự lèo lái tài ba và bản lĩnh của người nữ thuyền trưởng Nguyễn Thị Điền, con thuyền ấy không những vượt qua giông bão mà còn thẳng tiến về phía trước một cách vững chãi.
Bà Nguyễn Thị Điền, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty May thêu Giày An Phước
Từng ước mơ làm thẩm phán nhưng cuối cùng cuộc đời bà lại gắn chặt với nghề kinh doanh như là duyên nợ. Sau khi tốt nghiệp Đại học Kinh tế TP.HCM, bà công tác tại Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp TP.HCM trong vai trò cán bộ kế hoạch.
Đến năm 1992, trước xu thế “mở cửa” của nền kinh tế đất nước, máu kinh doanh trong cô nhân viên đã trổi dậy. Gom góp số tiền dành dụm được, bà mạnh dạn thành lập cơ sở may thêu chuyên làm hàng gia công xuất khẩu sang Nhật.
Với bản tính cẩn trọng và tỉ mỉ, bà đã chinh phục được thị trường khó tính này. Theo đó, công việc kinh doanh “thuận buồm xuôi gió” và từ cơ sở đã phát triển thành công ty.

Dám nghĩ, dám làm, dám đột phá


Năm 1997, kinh tế khu vực Đông Nam Á rơi vào thời kỳ khủng hoảng nên các đơn hàng của công ty bị ảnh hưởng rõ rệt. Đời sống của 1.200 công nhân là nỗi lo lớn khiến bà bao đêm trăn trở.
Cuối cùng, bà đưa ra một quyết định táo bạo mang tính “sống còn”: Đó là quay về“ao nhà” khi thị trường xuất khẩu bị thu hẹp và mua bản quyền, khai thác thương hiệu thời trang quốc tế nổi tiếng - Pierre Cardin.
Thực tế, trước khi đàm phán, tập đoàn thời trang đến từ nước Pháp đã làm việc với nhiều công ty may mặc lớn của Việt Nam nhưng không thành.
Cuối cùng, họ chọn công ty An Phước vì tin vào khả năng đảm bảo chất lượng sản phẩm cao của doanh nghiệp này.

Ở thời điểm đó, mức sống của người dân chưa cao, việc đầu tư như vậy của một doanh nghiệp nhỏ là rất mạo hiểm. Nhưng ngược lại, bà rất tự tin với quyết định của mình.
Bởi bà xác định “không khai thác đại trà mà định vị phân khúc thị trường tiêu dùng trung và cao cấp”. Quyết định táo bạo của bà đã tạo ra bước ngoặt phát triển thương hiệu thời trang Việt đạt tiêu chuẩn quốc tế về thiết kế lẫn kỹ thuật.
Tuy khai thác thương hiệu nước ngoài nhưng bà biết cách “bước ra từ cái bóng khổng lồ” của thương hiệu nước Pháp bằng cách đàm phán được song hành khai thác nhãn hàng của công ty.Vậy là cùng một cửa hiệu lại tồn tại hai thương hiệu tây và ta.

Với quan điểm “thà chậm mà chắc”, “chất lượng là số một” nên sản phẩm do công ty bà tạo ra có sự chăm chút tỉ mỉ từng đường kim mũi chỉ. Thời gian đầu, bà không ồ ạt mở cửa hàng mà rất thận trọng từng cửa hàng một để đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như các dịch vụ hậu mãi.
Nhờ vậy, chỉ sau một thời gian, sản phẩm mang thương hiệu Việt thể hiện sự sang trọng, lịch lãm đã lấn át được thương hiệu đến từ nước Pháp. Đến nay, công ty của bà là đơn vị may mặc duy nhất không có bất cứ đại lý nào. Hệ thống các cửa hàng trên toàn quốc đều do chính công ty mở với sự thống nhất về giá cả và chất lượng hậu mãi.

Nhưng không dám nản lòng

Năm 2012, doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn như giá nguyên liệu đầu vào tăng, tiêu thụ hàng hóa giảm... Cũng như những lần đối diện thách thức trước đây, bà vẫn tự tin và bản lĩnh tìm cách vượt qua.
Lần này, cách bà chọn là tiết kiệm, không sản xuất đại trà mà tập trung hơn nữa vào chất lượng và dịch vụ hậu mãi. Khó khăn nhưng bà vẫn quyết định mở thêm một xưởng ở Hóc Môn và đào tạo thêm hàng trăm công nhân để đảm bảo cung cấp hàng cho hệ thống cửa hàng của công ty.
Với những thành tích cống hiến cho ngành dệt may Việt Nam, bà từng được ghi nhận với những danh hiệu như “Nữ doanh nhân tiêu biểu năm 2008”, cúp “Bông hồng vàng”... Nhưng với bà, niềm vui lớn nhất có lẽ là thương hiệu ngày càng được nhiều người tiêu dùng biết đến và tin dùng.
Từ cô nhân viên đến tạo dựng sự nghiệp riêng, nữ thuyền trưởng Nguyễn Thị Điền đã chinh phục nhiều sóng gió thương trường bằng sự tận tâm, nhiệt huyết và bản lĩnh. Giờ ở ngoài ngũ tuần, bà vẫn chưa tắt đam mê với công việc. Bà vẫn tất bật như con thoi với công việc quản lý, những lần xuôi ngược Nam Bắc và đi nước ngoài để tìm cách giữ cho doanh nghiệp sức cạnh tranh mạnh mẽ.
Đồng thời, trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, bà luôn tìm cách đổi mới mình. Hiện bà đang tích cực mở rộng khâu khai thác nguyên liệu để có thêm các loại vải phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Bên cạnh đó là thỏa thuận để phía đối tác từ nước Pháp có thể rút ngắn thời gian chuyển giao mẫu thiết kế.

Theo nghiệp kinh doanh, khó khăn thử thách chắc chắn là không tránh khỏi, nhưng trong hoàn cảnh nào, người ta đều thấy bà điềm tĩnh, sẵn sàng đối diện để tìm cách vượt qua.
Bà tâm sự: “Kiến tha lâu sẽ đầy tổ. Làm lãnh đạo phải kiên nhẫn và không nản lòng trước gian khó. Con thuyền doanh nghiệp chở biết bao nhiêu cộng sự, nếu người chèo lái nản lòng buông xuôi thì con thuyền sẽ dễ chìm. Vì vậy, tôi không cho phép mình ngừng. Ngày nào còn sức khỏe, tôi còn làm việc và còn đam mê”.
Bà cũng chia sẻ thêm bí quyết thành công: “Người đầu tàu phải làm gương. Bản thân mình không cưỡi ngựa xem hoa mà phải lao động vất vả cùng công nhân. Đồng thời phải có sự quan tâm chia sẻ và đồng cam cộng khổ với công nhân. Khi công nhân thấy mình quan tâm đến họ thì họ mới “sống chết” với công ty”.

TRẦN ĐÌNH

Giáo sư giàu nhất thế giới và đam mê "lập công ty"

Có rất nhiều tỷ phú không có bằng đại học và có rất ít tỷ phú có học vị giáo sư. Với tài sản 1,3 tỷ USD, David Cheriton có lẽ là vị giáo sư đại học giàu nhất thế giới. Tuy nhiên, không giống như những tỷ phú khác, du thuyền, máy bay riêng không phải là sở thích của ông.
Vị giáo sư ngành khoa học máy tính của trường ĐH Stanford tự coi mình là "gàn". Món đồ xa xỉ nhất mà ông đã từng mua là một chiếc Honda Odyssey "cho bọn trẻ". Tuy nhiên, ông có một niềm đam mê tốn kém khác là "lập công ty". Hai công ty đầu tiên do ông tham gia thành lập được bán cho Cisco Systems và Sun Microsystems với giá hàng trăm triệu USD. Hơn 50 triệu USD kiếm được từ giao dịch đó ông tiếp tục đầu tư vào 17 công ty khác nhau, từ VMware cho đến gần đây nhất là Arista Networks.
Tuy nhiên, vụ đầu tư đáng nhớ nhất của ông là khi ký tờ séc 100.000 USD cho hai cậu sinh viên ĐH Stanford, Larry và Sergey năm 1998. Tờ séc đó giờ đây trị giá hơn 1 tỷ USD, tính theo giá trị cổ phiếu Google. Ông nói: "Tôi cảm thấy mình rất may mắn trong đầu tư".
Thời gian là tất cả
Giáo sư Cheriton, 61 tuổi, là một người rất kín tiếng. Kết quả search Google về ông chỉ ra vài trang web đơn sơ, với phông chữ Times New Roman, không hề có LinkedIn, Facebook hay thậm chí Twitter, như người ta thường thấy ở dân Thung lũng Silicon. Khi hỏi sinh viên của Stanford, cũng chẳng mấy người biết về ông.
David Cheriton là một trong số ít tỷ phú có học vị giáo sư
Đó là cách sống mà Cheriton ưa thích. Ông vẫn đi lại bằng chiếc Volkswagen Vanagon 1986 mua từ thủa hàn vi, vẫn sống trong ngôi nhà giản dị ở Palo Alto từ 30 năm nay, và thậm chí tự cắt tóc, cạo râu cho mình. "Đó không phải là vì tôi tiết kiệm hay khó tính, mà chỉ là vì tôi thấy cắt tóc cho mình rất dễ và đỡ mất thời gian".
Với một người làm việc từ 10 đến 12 giờ mỗi ngày, Cheriton hiểu rằng thời gian là tất cả. Công cụ tìm kiếm Google mà ông đầu tư vào cho phép hàng tỷ người trên thế giới tiếp cận với thông tin họ cần nhanh nhất có thể. 
Công ty mới nhất của ông, Arista Networks, tạo ra bộ chuyển dữ liệu có thể giảm thiểu thời gian chờ giữa các máy chủ, tốc độ bit dưới 500 nanoseconds (một phần tỷ của giây), nhanh gấp hai lần tốc độ chuyển dữ liệu tốt nhất hiện của Cisco và Juniper Networks. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư chứng khoán thực hiện giao dịch nhanh hơn đối thủ trong vài phần tỷ của giây và cho phép các bác sĩ kết hợp bộ gen của bệnh nhân ngay lập tức.
Thông minh và tự lập
Là con thứ ba trong gia đình có 6 người con, ông lớn lên trong thời kỳ sau cuộc đại duy thoái. Bố mẹ ông, hai kỹ sư người Canada, đã luôn khuyến khích con tự tìm con đường đi riêng của mình. 
Cheriton được các anh chị miêu tả là một cậu bé độc lập, tự tin. Khi còn đi học, cậu không thích tham gia các đội thể thao của trường mà dành thời gian xây cho mình một căn nhà gỗ riêng trong vườn của gia đình để tránh xa những đứa trẻ khác. 
Cậu bé thông minh đã rời khỏi trường trung học từ năm lớp 11 bởi cậu thấy chương trình học quá "thấp" so với mình. Bố cậu nói: "Nó đã luôn tự tìm con đường riêng của mình, chúng tôi không can thiệp vào quyết định của con".
Là một cậu bé thông minh và ham tìm hiểu, Chariton đã không hề bị mắng mỏ khi chọn theo học chương trình ghi ta cổ điển và nghệ thuật trình diễn, đam mê lớn nhất của cậu khi còn là sinh viên. 
Sau khi bị trượt khoa âm nhạc của Đại học Alberta, Chariton lại tìm được mối quan tâm khác, đó là toán học và sau đó là khoa học máy tính. Ông theo học tại Đại học British Columbia và sau đó lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Waterloo.
Năm 1981, trong khi tìm vốn tài trợ nghiên cứu, Cheriton đến Stanford khi Thung lũng Silicon mới bắt đầu hình thành. Tại đây, ông đã gặp Andy Bechtolsheim, một nghiên cứu sinh người Đức rất xuất sắc, người đã thiết lập mạng máy tính Stanford University Network, gọi tắt là SUN. Bechtolsheim mời Cheriton tham gia phát triển phần mềm cho máy tính nối mạng. Cheriton đã không chỉ tham gia viết phần mềm mà còn bắt tay vào cả thiết kế phần cứng.
Năm 1982, Bechtolsheim rời Stanford để thành lập Sun Microsystems nhưng Cheriton vẫn tiếp tục sự nghiệp dạy học. Ông hầu như tránh xa trào lưu bỏ học, bỏ dạy để đi mở công ty như nhiều sinh viên và đồng nghiệp của mình. Nhiều người trong số họ đã trở thành tỷ phú, như cựu giáo sư Stanford Jim Clark, người sáng lập Netscape.
Khi Bechtolsheim rời SUN năm 1995, ông bắt đầu tìm kiếm ai đó hiểu về những vấn đề phần mềm cơ bản phía sau những kết nối Ethernet. Ông gọi điện cho Chertion và hai người thành lập ra Granite Systems, một công ty chuyển mạch Ethernet. Chỉ sau 14 tháng thành lập, hai người đã bán công ty này cho Cisco với giá 220 triệu USD. 
Năm 2001, hai người lại gặp nhau và lập nên công ty mạng lưới Kealia, rồi bán lại cho Sun với giá 120 triệu USD. Trong những lần hợp tác đó, cả hai đã cùng làm vụ đầu tư thành công nhất của họ, đó là mỗi người đầu tư 100.000 USD cho hai chàng sinh viên sáng lập Google.
Page và Brin không phải là hai sinh viên của Cheriton, nhưng họ tìm đến ông sau khi biết về thành công của ông với Granite, với hy vọng ông sẽ cho truyền họ kinh nghiệm về việc thương mại hoá thuật toán PageRank. Đang thắng lớn với Granite (sở hữu 10% công ty này, sau khi bán, ông thu được hơn 20 triệu USD), ông đã sẵn lòng giúp họ.
Bechtolsheim cũng có suy nghĩ tương tự. Ông đã mất một thời gian để hiểu về sự phổ biến của công cụ tìm kiếm cũng như ý đồ thu tiền trên mỗi đường link của người sáng lập. Ông nhớ lại: "Tôi đã nghĩ nếu họ có 1 triệu hit mỗi ngày, và 5 cent mỗi đường link, ít nhất họ sẽ không phá sản".
Cheriton và Bechtolsheim tự nhận họ là "nhà đầu tư vô tình" vào Google. Tuy nhiên, Ron Conway, một nhà đầu tư có mặt ở khắp Thung lũng Silicon, người mà Cheriton đã giới thiệu đầu tư vào Google nói: "Họ là những người cực kỳ thông minh, vì thế họ thu hút được nhiều kỹ sư thông minh khác để cùng chia sẻ ý tưởng với mình".
Phải nghĩ lớn
Rất nhiều sinh viên khác đã tìm đến văn phòng của Cheriton để tìm kiếm lời khuyên và cả tiền bạc. Sam Liang, một cựu sinh viên của Cheriton, sau khi rời khỏi Google đã đến gặp giáo sư cũ của mình để chia sẻ về ý tưởng một nền tảng cho di động có thể theo dõi trực tuyến vị trí và thói quen của người dùng. Liang đã nhận được nhiều hơn 100.000 USD từ Chariton để thành lập công ty Alohar Mobile.
"Tiêu chuẩn của ông cực kỳ cao", Liang nói. Những cuộc họp nghiên cứu với Chariton là thời gian căng thẳng nhất trong tuần của anh. "Ông bảo tôi: Phải nghĩ lớn. Cậu phải tạo được tác động đối với cả thế giới", Liang nhớ lại.
Siddharth Batra, cựu sinh viên cao học của Stanford, người từng nhận tài trợ của Cheriton cho công ty của mình năm 2009, rất ngưỡng mộ thầy cũ của mình ở sự chú ý đến chi tiết. "Các kỹ sư công nghệ rất dễ chia sẻ ý tưởng với David, bởi vì ông hiểu rất nhanh vấn đề họ trình bày. Nếu tôi đến gặp một vị chủ tịch hay giám đốc quỹ đầu tư, chắc chắn họ sẽ rất khó hiểu những gì chúng tôi đang làm".
Cheriton cho biết ông luôn tránh xa những trào lưu thị trường, mạng xã hội được coi là một trong số đó. Ông chỉ tập trung vào những ý tưởng góp phần cải thiện cuộc sống con người, như cách mà Google giúp các sinh viên hoàn thành bài viết của mình vào lúc 3 giờ sáng. 
"Tôi có một niềm tin rằng nếu bạn mang đến giá trị thực sự cho thế giới và thực hiện theo cách hiểu biết , thị trường sẽ không quên bạn", Cheriton nói.

Nguồn: Vnmedia

Khát vọng 1 tỷ USD của ông chủ NovaAds

Sân chơi tiếp thị trực tuyến dạy cho Nguyễn Minh Quý - CEO của NovaAds, hiểu thế nào là sự trả giá, nhưng cũng lại truyền cho anh khát vọng đưa doanh nghiệp mình đạt ngưỡng doanh số 1 tỷ USD.
Khởi nghiệp ở độ tuổi ngoài 20 và nhanh chóng thất bại ở nhiều dự án. Giờ đây, sau 6 năm, Nguyễn Minh Quý khiến người ta hồ nghi khi anh tuyên bố: NovaAds sẽ đạt doanh số 1 tỷ USD vào năm 2030 với quy mô công ty lên tới 10.000 người. Sự tự tin thái quá của tuổi trẻ hay một chiêu PR? Cả hai đều có thể!
"Tôi đã từng khóc nấc lên như đứa trẻ mất món đồ quý giá nhất"
* Anh từng khởi nghiệp kinh doanh rất sớm?
- Tôi học Đại học Ngoại thương, vốn dĩ không liên quan gì đến lĩnh vực công nghệ thông tin, nhưng vì tình yêu và thật không ngờ tôi lại có duyên kinh doanh sớm đến thế.Thời sinh viên, chỉ vì muốn được trò chuyện với người yêu đi du học mà tôi đã vay mượn mở 1 quán net. Thời điểm đó, tôi đã thu về mỗi ngày 1,5 triệu đồng bằng "tiền tươi thóc thật".
Có lẽ thành công ban đầu khá dễ dàng này đã khiến khi ra trường tôi hào hứng muốn tạo dựng ngay cho mình một sự nghiệp riêng.
Bố mẹ tôi không giàu, quan hệ của tôi không nhiều mà tôi lại muốn thành công nhanh thì chỉ có cách kinh doanh một cái gì đó mới mẻ, tiềm năng, ít vốn. Tôi bắt tay vào kinh doanh như vậy với viễn cảnh toàn màu hồng.
* Và chắc anh cũng sớm nếm mùi thất bại?
- Quả đúng là khi nhập cuộc rồi thì mọi thứ không đơn giản như tôi nghĩ. Đã có hàng chục dự án bị thất bại liên tiếp mà nguyên nhân chính là vì tôi không có kinh nghiệm và năng lực quản lý.
Cuối năm 2007, trang web Top 1 của tôi đã lọt top 30 website có lượng truy cập lớn nhất Việt Nam với 150 nghìn khách ghé thăm mỗi ngày.
Đã có rất nhiều khách hàng lớn như: Ponds, V-Rohto, các công ty game… đặt quảng cáo trên website của tôi. Giá trị của website lúc đó được định giá khoảng 4-5 tỷ đồng.
Tôi đã từng ngất ngây vì những gì mình đạt được. Vậy mà, sau đó website này đã bị chia tách làm 2 và mọi thứ dần sụp đổ. Từ 30 nhân viên với doanh số vài trăm triệu/tháng, tôi bỗng chốc trắng tay và chỉ còn 3 nhân viên thử việc.
Nói thật là lúc đó tôi không nghĩ được bài học mình cần rút ra ở đây là gì mà chỉ biết khóc nấc lên như một đứa trẻ vừa bị mất đi một món đồ chơi quý giá nhất.
* Anh có nghĩ, trong một thế giới kinh doanh bằng quan hệ và tiềm lực vốn, sự thất bại của một doanh nghiệp trẻ "ba không" như anh là hoàn toàn có thể hiểu được?
- Tôi thì không nghĩ như vậy đâu. Bình tĩnh lại tôi cho rằng, nguyên nhân chính là do tôi không đủ năng lực quản lý, ôm đồm quá nhiều và bản lĩnh còn non kém. Đó là những gì mà tôi có thể nhận ra để sửa sai.
* Có thể hiểu "sửa sai" đồng nghĩa với việc tiếp tục dấn thân thay vì từ bỏ?  
- Vào thời kỳ khó khăn nhất đó, tôi có hai lựa chọn: dẹp bỏ tất cả để đi xin việc như các bạn cùng trang lứa hoặc cố gắng gây dựng lại từ đầu. Cuối cùng tôi quyết định, liều thêm một lần nữa. Ngã ở đâu thì đứng lên từ đó!
Tôi bắt đầu lại bằng số vốn ít ỏi nhờ bố mẹ vay giúp. Tôi đã từng nghĩ rằng, công ty mình còn bé, chưa có nguồn thu nên cái gì cũng phải làm để có tiền hoạt động. Và nguyên nhân về cái chết của những dự án mà tôi làm đều là do xuất phát từ lối tư duy truyền thống đó.
Sau khi ngã lên ngã xuống, vùi dập thêm nhiều dự án nữa tôi mới nhận ra rằng, mình chỉ nên tập trung vào một thứ mà thôi. Và marketing online là cái đích cuối cùng mà tôi đã chọn.
Đến giờ NovaAds đã có hơn 140 nhân viên, 1.000 khách hàng và doanh thu trong 2 năm vừa qua tăng 100%/năm.
Khát vọng 1 tỷ USD
* Khai phá một lĩnh vực mới mẻ có thể ít đối thủ cạnh tranh hơn, nhưng lại không hề dễ dàng? Với một "CV" hầu như toàn những thất bại, kinh nghiệm thực tế về quảng cáo trực tuyến gần như bằng không, tại sao anh vẫn dấn thân?
- Tháng 7/2006 khi tôi chính thức gia nhập thị trường, quảng cáo trực tuyến chỉ chiếm 0,5% doanh thu (khoảng 50 tỷ) của toàn bộ ngành quảng cáo.
Đến nay tốc độ tăng trưởng của ngành này đã đạt mức 60-70%/năm và doanh thu năm 2011 đã tăng 20 lần so với 5 năm trước đó. Như vậy có thể nói là cơ hội cho NovaAds vẫn còn rất lớn.
* Rút kinh nghiệm từ những lần thất bại trước, chiến lược kinh doanh của NovaAds lần này có gì khác biệt?
Tôi xác định NovaAds hoạt động trong ngành quảng cáo trực tuyến, nhưng phải chọn một lĩnh vực chuyên sâu. Tôi đã từng có dự định làm các trang thông tin với mục đích mở kênh truyền thông để quảng cáo hiển thị, sau đó không thành công.
Cuối cùng tôi quyết định tập trung vào quảng cáo tìm kiếm, bởi trên thế giới loại hình này chiếm tới 47 - 48% trong quảng cáo trực tuyến, trong khi ở Việt Nam con số mới chỉ dừng lại ở mức 20%.
Hiện tại Việt Nam, NovaAds đứng trong top 2 công ty quảng cáo tìm kiếm lớn nhất. Năm 2010, NovaAds chính thức trở thành đối tác của Google tại Việt Nam để khai thác hoạt động quảng cáo tìm kiếm trên website này.
* Một công ty lớn như Google khi lựa chọn đối tác ắt hẳn sẽ phải đưa ra những tiêu chí rất khắt khe. Anh có thể chia sẻ bí quyết?
Tôi không có bí quyết nào ngoài sự nỗ lực và cố gắng hết sức. Do mình còn non yếu nên việc đứng trên vai người khổng lồ sẽ là một sự lựa chọn hợp lý cho bất kỳ doanh nghiệp nào muốn phát triển.
Để trở thành đối tác của Google, công ty của bạn phải đạt vài trăm khách hàng, doanh số yêu cầu có thể không cao, nhưng phải thi qua các chứng chỉ của Google và đơn vị này sẽ đánh giá xem độ hài lòng dịch vụ của khách hàng ra sao…Nếu mình làm tốt, ắt hẳn sẽ được công nhận. Tôi tin là như thế.
* Anh có nghĩ một ngày nào đó mình sẽ đưa NovaAds "ra biển lớn"?
-Tôi cũng đã có ý định đó. Nhưng trước mắt mục tiêu của NovaAds vẫn là cho ra đời những sản phẩm phục vụ thị trường trong nước vì cơ hội ở đây vẫn còn nhiều.
Tôi nghĩ quan trọng nhất là sản phẩm của mình có tốt hay không mà thôi. Mục tiêu của tôi là tới năm 2030, NovaAds sẽ đạt 1 tỷ USD về doanh thu, nhân sự lên tới 10.000 người.
* Mọi thứ đều có thể thay đổi và không ai có thể nói trước về tương lai, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động như hiện nay. Con số 1 tỷ USD mà anh đưa ra tôi thấy nó giống một chiêu PR hơn là một kế hoạch?
- (Cười) Đó là cách nghĩ riêng của bạn. Với tôi đó là một khát khao có định lượng hẳn hoi. Tôi không nói là chắc chắn tôi sẽ được như thế mà đó là mục tiêu mà tôi phải đạt được. Để hiện thực hóa điều đó, tôi có các lộ trình ngắn hạn cho mình.
Trước mắt là từ nay tới hết năm 2015 NovaAds sẽ có 10.000 khách hàng và doanh số đạt được là 20 triệu USD. Nhiều người cũng đã tỏ ra hoài nghi và đặt ngay câu hỏi tương tự như bạn khi tôi nói về khát vọng của NovaAds.
Theo tôi, một trong những nguyên nhân gốc của đợt khủng khoảng kinh tế này là do thế hệ các doanh nhân trước đó đã phụ thuộc quá nhiều vào các mối quan hệ để đầu tư dàn trải sang các lĩnh vực mà mình không mạnh.
Bài học này tôi đã "ngấm" ngay từ khi khởi nghiệp. Và đến giờ tôi chỉ kiên quyết đi theo duy nhất một con đường mà mình đã chọn: marketing online.
Doanh nhân 3.0
* Thị trường như anh nói đã định danh những doanh nhân có tiềm lực tài chính và phát triển dựa vào mối quan hệ. Anh có lo ngại vì lẽ đó mà cánh cửa dành cho những doanh nhân trẻ như anh sẽ hẹp hơn?
- Thời kỳ làm việc dựa vào mối quan hệ, đầu cơ theo tôi đã qua dần. Biểu hiện rõ ràng nhất trong giai đoạn hiện nay là quyền lực đã thuộc về người mua, giá cả đã dần quay về đúng với giá trị. Và đó là cơ hội của những người mong muốn được kinh doanh để tạo ra giá trị thực cho xã hội như chúng tôi.
* Liệu những người mong muốn được kinh doanh để tạo ra giá trị thực cho xã hội mà anh đề cập có đủ sức tạo lập nên một thế hệ kinh doanh mới, đủ sức đối trọng với lớp kinh doanh theo quan hệ?
- Tự tin là một trong những sức mạnh của tôi mà (cười). Gần đây có một số người đưa ra khái niệm doanh nhân 3.0 để chỉ thế hệ doanh nhân mới có năng lực, khát vọng và văn hóa mới.
Ở đây tôi không bàn về khái niệm mà muốn nói đến bản chất của sự việc. Đây là thời kỳ mà các doanh nhân, doanh nghiệp phải dựa vào thực lực của mình để vươn lên chứ không chỉ đơn thuần là các mối quan hệ vốn có.
Thực lực ở đây được hiểu là tổng hợp nhiều yếu tố như: năng lực quản lý của anh có tốt không, thương hiệu tốt hơn, giá trị mang lại cho xã hội bền vững hơn chứ không phải mang tính chất ngắn hạn.
* Trong khủng hoảng người ta cũng đang nói nhiều về sức mạnh nội tại của mỗi doanh nghiệp mà việc tạo dựng tinh thần doanh nghiệp là một điểm không thể thiếu. Với anh và với NovaAds có gì thú vị để chia sẻ?
- Ở các công ty khác thế nào thì tôi không biết, nhưng ở NovaAds tôi tạo ra một môi trường thân thiện và có chế độ đãi ngộ nhân tài ít nơi sánh kịp.
Tôi sẵn sàng chi trả mức lương 50 - 60 triệu đồng cho một trưởng phòng trẻ có năng lực. Tôi cũng bỏ không ít công sức để chiêu mộ nhân tài. Có trưởng phòng tôi phải mất 1,5 năm đi lại nhiều lần mới mời về được. Với các nhân sự đang có, tôi luôn dành sự quan tâm hết mực…
Nếu mình không tôn trọng nhân viên thì ra đường mình chỉ là "thằng sếp" trong mắt họ thôi. Mới đây, tôi đã chính thức "ban chiếu cầu hiền" để chiêu mộ hiền tài.
* Một ý tưởng rất hay và không giống ai. Sau khi ban chiếu cầu hiền, đã có bao nhiêu hiền tài đến với anh? 
- Tôi là cháu của ông đồ và vì vậy mà cũng có chút khiếu thơ văn nên đã tự sáng tác ra "chiếu". Nhưng tôi làm việc này không phải để chứng tỏ gì cả, mà chỉ muốn mọi người biết tôi thực sự cầu thị, muốn chiêu mộ được các nhân tài thực sự.
Có nhiều người bạn đã hỏi tôi: "Có phải mày đi thuê PR làm cái "chiếu" này để đánh bóng tên tuổi không? Nếu là PR thì tao không về NovaAds, còn nếu là tâm sức của mày thì tao sẽ về cùng đồng cam cộng khổ với nhau".
Sức ảnh hưởng của vị thủ lĩnh cũng không nhỏ, phải không? Nếu có tâm thì tự khắc người hiền sẽ đến với mình thôi.
* Người ta thường nói, tìm người tài không khó, giữ người tài khó hơn. Đã có rất nhiều nhân viên kinh doanh ở các công ty khác bỏ ra ngoài làm riêng và kéo theo toàn bộ khách hàng. Anh có lo ngại điều này khi mình đang áp dụng chính sách "thả gà ra đuổi"?
- Hai năm nay doanh số trực tiếp đến từ tôi là 0%. Chuyện này có thể là khó tin, nhưng đó lại là sự thật 100%. Tôi chia công ty ra làm nhiều phòng ban khác nhau, tất cả đều làm theo một quy trình theo tiêu chuẩn ISO.
Tôi giao toàn quyền ký, quản lý hợp đồng cho nhân viên và mình chỉ đóng vai trò là người tạo môi trường để họ phát triển. Mọi thứ đã có quy trình, quy chuẩn rồi thì cứ thế mà chạy, không có gì đáng lo nữa cả.
* Trong ngành công nghệ, nhiều giám đốc thành đạt chủ yếu là đi du học ở nước ngoài. Còn anh, tốt nghiệp đại học trong nước và tại vị luôn ở đó đến giờ. Anh có lo ngại mình sẽ "tụt hậu" so với nhiều doanh nhân cùng thời?
- Du học ư? Tôi cũng rất thích và đã chấp nhận bảo lưu 1 năm ở đại học để học tiếng Anh. Sau khi xin được học bổng ở Mỹ tôi không xin được visa nên đành quay trở lại trường học tiếp. Nhưng tôi không coi đó là một thiệt thòi. Tôi không được đi du học thì sẽ học lại của những người đi du học về vậy.
Tôi rất chịu học và sẵn sàng học ở bất cứ đâu, bất cứ ai có lòng chia sẻ. Chẳng hạn như mới đây nhất, khi anh Đỗ Hoài Nam của Emotiv về nước, tôi đã đến xin được anh chỉ bảo cho 3 tiếng đồng hồ với rất nhiều kiến thức bổ ích. Như vậy thì đâu cứ phải là đi ra bên kia biên giới mới học được điều hay, phải không?
* Nhưng lắm thầy thì nhiều ma. Anh có sợ mình sẽ giống chàng trai trong câu chuyện dân gian "Đẽo cày giữa đường"?
- Bạn hỏi xoáy quá. Tôi là người cầu thị, nhưng không phải cái gì tôi cũng nghe theo. Sau khi học xong tôi thường chia sẻ với đội ngũ tư vấn của mình xem cái gì hay thì làm, dở thì thôi. Mà không phải bạ ai tôi cũng học mà có chọn lọc.
Khi công ty ở tầm 50 người thì tôi học của một người quản lý tốt một công ty có 50 người, đến khi lên đến 100 thì tìm người có công ty tầm 100 người hoạt động tốt…
Cứ như thế tôi sẽ học dần dần, học cái mình cần chứ không vươn tới cái gì quá cao siêu, vượt ngoài tầm tay của mình vì như vậy sẽ rất khó kiểm soát.
Nguyễn Minh Quý cho biết tuổi của anh ứng với chữ "Hòa". Vì lẽ đó mà anh không thích cạnh tranh, không ham đấu đá. Quý chỉ muốn được làm thật tốt công việc của mình và tạo môi trường để mọi người cùng phát triển. Và chính chữ "Hòa" ấy là chìa khóa giúp anh thành công trên thương trường khốc liệt này.

Nguồn: DĐDN

Nên chuyện từ 20 triệu đồng

Xuất hiện thường xuyên tại các sự kiện công nghệ thông tin (CNTT), chị Phùng Thị Thu Thủy, Giám đốc Điều hành TabViet, luôn được chú ý bởi từ trước đến nay CNTT thường được “mặc định” là “lãnh địa” của giới mày râu. Nhìn vào sự thành công của TabViet hôm nay, ít ai biết chị có một khởi đầu chật vật với số tiền khiêm tốn.
Trong suy nghĩ của nhiều người, việc giới nữ đảm nhiệm các chức vụ điều hành trong lĩnh vựcCNTT vẫn còn là điều khá lạ lẫm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ những vị trí chủ chốt trong các tập đoàn hoặc công ty về CNTT tăng lên từng năm. Trong số đó có chị Thủy, người đã đặt nền móng và đồng hành với sự phát triển lớn mạnh của TabViet.

Sinh ra tại Quảng Ngãi, trong một gia đình có truyền thống về lĩnh vực phân phối nước giải khát nhưng chị Thủy lại ôm giấc mơ CNTT để tìm ngã rẽ cho mình. Tốt nghiệp đại học, chị ở lại TP.HCM, đầu quân cho một vài công ty chuyên về CNTT. Áp lựccủa phụ nữ làm trong lĩnh vực CNTT không nhỏ, khiến chị đôi lúc cảm thấy hoài nghi về con đường mình đang đi.
Nói như các nhà nghiên cứu, phụ nữ ngành này thường thay đổi công việc do áp lực bị đồng nghiệp nam giới bỏ xa và chưa có được sự cân bằng giữa công việc và đời sống. Ngược lại, niềm đam mê CNTT trong chị cứ lớn dần, và chẳng để mất nhiều thời gianở vị trí làmthuê, chị biến giấc mơ thành lập công ty riêng về CNTT thànhhiện thực vào năm 2003 với số vốn hơn 20 triệu đồng.
Công ty ẤnTrà, tiền thâncủaTabViet rađời, tập trung vào lĩnh vực tư vấn, thiết kế và cung cấp các gói giải pháp bảo mật thông tin cho doanh nghiệp. Ban đầu, không có kinh phí cho quảng cáo, marketing, chị tiếp cận các doanh nghiệp bằng phương pháp “thủ thỉ”, đảm bảo khách hàng có thể tin vào chất lượng dịch vụ, sản phẩm của Công ty. Năm 2004, Ấn Trà ký được gói hợp đồng trị giá gần 1,5 tỷ đồng.
Sau thành công đầu tay, chị nghiệm ramột điều: “Năng lực thực sự của công ty và chất lượng dịch vụ, sản phẩm mới là điều có khả năng thuyết phục khách hàng tốt nhất”. Thành công không bao lâu, chị Thủy phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 và việc kinh doanh của công ty không tránh khỏi bị ảnh hưởng khi các doanh nghiệp mạnh tay cắt giảm chi phí đầu tư cho CNTT.

Để vượt qua khó khăn, chị và Ban Quản trị (lúc này đổi thành Công ty Cổ phần TabViet) quyết định thay đổi định hướng, xây dựng giải pháp dựa trên mã nguồn mở (open - source) vốn được cộng đồng thế giới phát triển và sử dụng rộng rãi. Ở thời điểm đó,dù có lợi thế là sử dụng tài nguyên sẵn có của thế giới, TabViet chỉ cần điều chỉnh lại cho phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp Việt Namvà đưa ra giá rất cạnh tranh, nhưng cái khó của Công ty cũng rất lớn.

Đó là làm sao thuyết phục giới IT, vốn đã gắn bó với phần mềm của các tập đoàn nổi tiếng thế giới, thay đổi thói quen sử dụng. Để gỡ khó, chị đích thân đến từng doanh nghiệp, gặp người phụ trách IT để giải thích về tầm quan trọng của việc bảo mật thông tin doanh nghiệp và giới thiệu về tính ưu việt của giải pháp xây dựng trên nền tảng mã nguồn mở.

Trải qua thách thức, một lần nữa chị lại rút thêm bài học trong kinh doanh là phụ nữ muốn làm IT thành công cần phải quyết đoán, mềm dẻo và chịu dấn thân. Đến nay, danh sách khách hàng của TabViet đã dài thêm, trong số đó có nhiều công ty, tập đoàn lớn của Việt Nam như: Công ty Tư vấn xây dựng SPCC, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Công ty Biti’s, Công ty Nhựa Long Thành, Công ty Nhựa Duy Tân, Công ty Nhựa Bình Minh, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam... Năm 2009, Công ty “bén duyên” với SAP, một trong những tập đoàn số 1 thế giới về giải pháp ERP (hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp).

Quyết định hợp tác với SAP để thực hiện việc cung cấp hạ tầng ERP của chị một lần nữa khiến giới chuyên môn phải thừa nhận sự nhạy bén của người phụ nữ này. Bởi thời điểm đó SAP đang khẳng định vị trí quán quân tại thị trường ERP Việt Nam. Cùng với SAP, TabViet đã giành thắng lợi ở khá nhiều dự án quy mô lớn như: SPCC, Biti’s, Hoàng Anh Gia Lai, Pinaco... Dễ thấy, tâm huyết với nghề, nhạy bén với thời cuộc và giữ uy tín với khách hàng chính là bí quyết "gối đầu giường" để thành công.

VŨ HOÀNG